EUDR đặt ra yêu cầu truy xuất đến từng lô đất
Trong bối cảnh Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) từng bước đi vào thực thi, yêu cầu truy xuất nguồn gốc đến cấp lô trồng đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với các ngành hàng nông, lâm sản của Việt Nam như cà phê, cao su và gỗ.

Quy định EUDR đang từng bước đi vào thực thi, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc đến cấp lô trồng trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với các ngành hàng nông lâm sản của Việt Nam. Ảnh minh họa
Tại webinar “Thu thập và quản lý dữ liệu vùng trồng để đáp ứng EUDR: Lựa chọn giải pháp trong bối cảnh hạn chế nguồn lực” do Mạng lưới EUDR Lâm nghiệp và Mạng lưới Nghiên cứu Chính sách nông lâm nghiệp phối hợp tổ chức chiều 8/5, nhiều chuyên gia cho rằng dữ liệu vùng trồng hiện không còn là “yếu tố hỗ trợ” mà đã trở thành nền tảng cốt lõi để chứng minh khả năng tuân thủ EUDR.
Theo TS. Tô Xuân Phúc, Tổ chức Forest Trends, truy xuất nguồn gốc hiện không chỉ là yêu cầu riêng của thị trường EU mà đang dần trở thành yêu cầu quản lý chung tại Việt Nam. Theo định hướng của Chính phủ, đến cuối năm 2026, toàn bộ sản phẩm nông nghiệp, kể cả hàng nhập khẩu tiêu thụ trong nước, đều phải bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc. “Truy xuất là khả năng xác định và theo dõi sản phẩm qua từng công đoạn của chuỗi cung ứng, từ đó quay trở lại được nguồn gốc xuất xứ ban đầu của sản phẩm”, ông Phúc nhấn mạnh.
Để thực hiện truy xuất nguồn gốc cần có hai yếu tố cốt lõi gồm dữ liệu đầu vào và bằng chứng pháp lý đi kèm. Trong đó, dữ liệu đầu vào là thông tin về vùng trồng, lô đất, hiện trạng cây trồng, diện tích, tọa độ địa lý…, còn bằng chứng pháp lý gồm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng giao khoán hoặc các giấy tờ chứng minh quyền canh tác hợp pháp.
Đánh giá về thực trạng hiện nay, ông Phúc cho rằng Việt Nam đã có nhiều hệ thống dữ liệu do các cơ quan quản lý xây dựng như dữ liệu diện tích cà phê, cao su hay dữ liệu rừng trồng, sản lượng khai thác gỗ.
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất là dữ liệu chưa đủ chi tiết và chưa đáp ứng yêu cầu về độ chính xác theo tiêu chuẩn EUDR. “EUDR yêu cầu phải xác định được từng lô, thửa đất cụ thể cùng tình trạng pháp lý rõ ràng. Trong khi đó, nhiều dữ liệu hiện nay mới dừng ở mức tổng hợp diện tích, chưa đủ để phục vụ truy xuất nguồn gốc”, ông Phúc nhận định.
Theo ông Phúc, hiện Việt Nam đã hình thành một số cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu thông qua các chương trình phát triển bền vững và chứng chỉ quốc tế. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC hiện khoảng 260.000 ha, còn diện tích đạt chứng chỉ PEFC đã vượt 500.000 ha. Tuy nhiên, phần lớn dữ liệu mới chỉ tập trung trong các chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ, chưa bao phủ toàn bộ vùng sản xuất.
Không thể chờ một hệ thống hoàn hảo mới bắt đầu
TS. Trương Tất Đơ, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết, hai nội dung được quan tâm nhiều nhất hiện nay là xây dựng bản đồ ranh giới rừng năm 2020 và cơ sở dữ liệu vùng trồng phục vụ truy xuất nguồn gốc. Ngày 31/12/2020 là “mốc tham chiếu bắt buộc” của EUDR. Mọi thay đổi trạng thái rừng sau thời điểm này đều có thể bị xem là liên quan đến mất rừng.
“Muốn chứng minh sản phẩm không gây mất rừng thì bắt buộc phải có bản đồ ranh giới rừng tại hoặc trước thời điểm 31/12/2020 để đối chiếu. Nếu dùng dữ liệu sau thời điểm này sẽ không còn giá trị đối với EUDR”, ông Đơ nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, EUDR yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp tọa độ địa lý của khu vực sản xuất. Với diện tích dưới 4 ha có thể xác định bằng một điểm tọa độ; còn diện tích trên 4 ha phải xác định bằng đa giác khép kín (polygon).
Theo các chuyên gia, việc xây dựng và công bố bản đồ ranh giới rừng năm 2020 là cần thiết trong bối cảnh nhiều tổ chức quốc tế đã công khai dữ liệu rừng toàn cầu dựa trên ảnh vệ tinh.
Tuy nhiên, các bộ dữ liệu quốc tế có thể phát sinh sai lệch nếu thiếu kiểm chứng thực địa. Một số diện tích cà phê có cây che bóng hoặc mô hình nông lâm kết hợp có nguy cơ bị nhận diện là rừng, từ đó ảnh hưởng đến quá trình đánh giá tuân thủ quy định EUDR.
ThS. Phạm Ngọc Hải, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, nhận định, dữ liệu cốt lõi của EUDR là thông tin vị trí lô đất và lịch sử sử dụng đất nhằm chứng minh không gây mất rừng. Tuy nhiên, việc triển khai tại Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn do hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân lực và hạ tầng dữ liệu.
“Trong điều kiện nguồn lực đầy đủ thì đáp ứng EUDR không quá khó. Nhưng với quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đặc biệt khu vực nông hộ nhỏ lẻ, đây là thách thức rất lớn”, ông Hải nhận định.
Cũng theo ông Hải, hiện có nhiều phương pháp thu thập dữ liệu như GPS cầm tay, RTK, ảnh viễn thám hoặc điện thoại thông minh. Trong đó, smartphone được xem là giải pháp khả thi nhất nhờ chi phí thấp và dễ triển khai diện rộng.
Hiện chưa có công cụ nào đáp ứng hoàn hảo cho tất cả nhóm đối tượng từ nông hộ, hợp tác xã đến doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Do đó, điều quan trọng nhất không nằm ở việc sử dụng công cụ nào mà là dữ liệu phải bảo đảm tính thống nhất và có khả năng tích hợp vào cơ sở dữ liệu tập trung.
Thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở công nghệ mà còn là bài toán nguồn lực và thời gian triển khai. Theo lộ trình, EUDR sẽ chính thức áp dụng từ cuối năm 2026. Trong khi đó, nhiều địa phương hiện vẫn chưa có dữ liệu đầu vào về vùng trồng. Các chuyên gia cho rằng, không nên chờ đợi một giải pháp hoàn hảo mới bắt đầu thực hiện. Điều quan trọng nhất hiện nay là phải triển khai ngay theo hướng vừa làm, vừa điều chỉnh để kịp đáp ứng lộ trình EUDR.
Trong ngắn hạn, việc tận dụng các công cụ mã nguồn mở, kết hợp giải pháp công nghệ trong nước và huy động sự tham gia của doanh nghiệp, địa phương, hợp tác xã và người dân sẽ là hướng đi khả thi để nhanh chóng hình thành cơ sở dữ liệu vùng trồng phục vụ truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu của EUDR. Về dài hạn, Việt Nam cần xây dựng một nền tảng dữ liệu đồng bộ do Nhà nước làm chủ nhằm phục vụ quản lý tập trung và bảo đảm chủ quyền dữ liệu quốc gia.


