![]() |
| Người dân xã Việt Lâm được nâng cao kỹ năng từ nghề truyền thống. |
Đưa lớp học nghề về tận thôn, bản
Với đặc thù địa bàn rộng, nhiều xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn, việc đưa người dân đến các cơ sở đào tạo để học nghề không phải lúc nào cũng thuận lợi. Bởi vậy, một trong những hướng đi được Tuyên Quang chú trọng là đưa lớp học đến gần người dân, tổ chức đào tạo ngay tại thôn, bản và vùng sản xuất.
Tại thôn Khuổi Hóp, xã Việt Lâm, nơi đồng bào Dao sinh sống, lớp đào tạo nghề trồng và chế biến chè được tổ chức ngay tại vùng nguyên liệu với 31 học viên. Nội dung học kết hợp lý thuyết và thực hành, tập trung vào nhân giống, chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh và các kỹ thuật liên quan đến cây chè.
Cách tổ chức này giúp người dân không phải rời địa bàn sản xuất trong thời gian dài, đồng thời có thể áp dụng kiến thức ngay trên nương, đồi chè của gia đình. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với mục tiêu nâng cao kỹ năng nghề cho lao động nông thôn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số.

Hướng dạy nghề đáp ứng nhu cầu người học.
Không chỉ nghề trồng trọt, nhiều kỹ năng mới cũng được đưa vào chương trình đào tạo. Người học được hướng dẫn cách chụp ảnh, quay video, xây dựng nội dung giới thiệu sản phẩm, sử dụng mạng xã hội và sàn thương mại điện tử để quảng bá, tiêu thụ nông sản.
Với lớp chế biến thức ăn chăn nuôi, học viên được hướng dẫn tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để phối trộn thức ăn, qua đó giảm chi phí sản xuất.
Những nội dung tưởng như xa lạ với sản xuất nông nghiệp truyền thống lại đang trở thành kỹ năng thiết thực đối với người dân nông thôn trong bối cảnh kinh tế số phát triển.
Tại xã Hùng Lợi, một lớp đào tạo nghề chăn nuôi thuộc Tiểu dự án 1, Dự án 4 về phát triển giáo dục nghề nghiệp vùng nghèo, vùng khó khăn của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2026 được tổ chức tại Nhà văn hóa thôn Lè, với 35 học viên. Chương trình tập trung vào kiến thức, kỹ thuật chăn nuôi phù hợp điều kiện thực tế địa phương.
Ở xã Lùng Tám, các lớp nghề cũng được thiết kế từ nhu cầu thực tế. Trong năm 2026, địa phương tổ chức các lớp nấu ăn, du lịch cộng đồng, sửa chữa máy nông cụ, pha chế đồ uống và sử dụng máy tính cơ bản. Mục tiêu đặt ra là sau đào tạo, trên 85% học viên có việc làm hoặc tự tạo việc làm ổn định.
Như vậy, với người dân vùng khó, học nghề không còn đơn thuần là học một nghề để có chứng chỉ. Quan trọng hơn, đó là quá trình hình thành kỹ năng để người học làm được việc, tạo ra sản phẩm và tự mở rộng sinh kế ngay trên quê hương mình.
Từ học nghề đến tự tạo việc làm
Đào tạo nghề chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi gắn với việc làm và sinh kế. Đây cũng là định hướng xuyên suốt trong kế hoạch phát triển giáo dục nghề nghiệp của Tuyên Quang.
Theo kế hoạch tuyển sinh, đào tạo giáo dục nghề nghiệp năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu tuyển sinh, đào tạo 10.806 người ở các trình độ. Trong đó, 2.095 người học trình độ cao đẳng, trung cấp và 8.711 lao động nông thôn được đào tạo trình độ sơ cấp hoặc dưới 3 tháng theo phương thức đặt hàng.
Các ngành nghề được lựa chọn theo nhu cầu thị trường và điều kiện phát triển của từng địa phương.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các nghề được ưu tiên gồm: Trồng và chế biến chè, trồng dược liệu, chăn nuôi, dệt thổ cẩm, du lịch cộng đồng, hướng dẫn du lịch, dịch vụ nhà hàng, khách sạn… Đây đều là những lĩnh vực có khả năng khai thác lợi thế địa phương và tạo sinh kế tại chỗ.
Ông Bùi Quang Trí, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tuyên Quang, cho biết cùng với mở rộng quy mô đào tạo, tỉnh tiếp tục tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp trong tuyển sinh, đào tạo, thực hành, thực tập và tuyển dụng sau tốt nghiệp.
Định hướng này phù hợp với kế hoạch đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn của tỉnh đến năm 2030. Tuyên Quang đặt mục tiêu hằng năm tổ chức đào tạo nghề cho trên 13.000 người, trong đó lao động nông thôn chiếm tối thiểu 80%; ít nhất 80% lao động nông thôn sau đào tạo có việc làm phù hợp hoặc tự tạo việc làm tại địa phương.
Đáng chú ý, đào tạo nghề được đặt trong mối liên hệ với chuyển đổi số, kinh tế xanh và phát triển nông nghiệp sinh thái. Người lao động không chỉ cần biết làm nghề mà còn phải từng bước hình thành tác phong công nghiệp, kỹ năng số cơ bản, ý thức bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng với thay đổi của thị trường lao động.
Từ thực tế đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, hiệu quả của cách làm “học đi đôi với hành” cũng được thể hiện rõ. Trường Cao đẳng Tuyên Quang hiện duy trì đào tạo ở nhiều trình độ, với hơn 3.600 học sinh, sinh viên, học viên; nhà trường liên kết với hơn 80 doanh nghiệp để đưa người học tiếp cận môi trường thực tế.
Ông Đỗ Xuân Trường, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Tuyên Quang, nhấn mạnh nhà trường tiếp tục đổi mới chương trình theo hướng sát thực tế, đẩy mạnh liên kết doanh nghiệp, hướng tới mục tiêu người học sau tốt nghiệp có kỹ năng nghề vững vàng và đáp ứng yêu cầu thị trường lao động.
Với người dân vùng khó, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa. Một khóa học nghề ngắn ngày có thể không lập tức thay đổi cuộc sống, nhưng nếu kiến thức được lựa chọn đúng nhu cầu, được thực hành ngay tại nơi sản xuất và tiếp tục được hỗ trợ về đầu ra, đó có thể trở thành điểm khởi đầu cho một sinh kế mới.
Mục tiêu đến năm 2030 của Tuyên Quang: Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên từ 72% trở lên, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt từ 30% trở lên; đồng thời hình thành lực lượng lao động nông thôn có kỹ năng nghề, năng lực số cơ bản và khả năng thích ứng với yêu cầu mới.




