Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Tuyển sinh lớp 10: Tính toán từ thực tiễn và mục tiêu giáo dục

Đổi mới tuyển sinh lớp 10 đặt ra yêu cầu lựa chọn phương thức phù hợp với điều kiện từng địa phương, đồng thời bảo đảm đánh giá đúng năng lực học sinh và gắn với định hướng phân luồng sau THCS.

Giờ học tại Trường THPT Tô Hiến Thành (Thanh Hóa). Ảnh: NTCC
Giờ học tại Trường THPT Tô Hiến Thành (Thanh Hóa). Ảnh: NTCC

Ông Nguyễn Văn Dương - Hiệu trưởng Trường Phổ thông nội trú TH&THCS Na Mèo (xã Na Mèo, Thanh Hóa): Chỉ thi tuyển khi học sinh đăng ký vượt quá khả năng tiếp nhận là phù hợp

tuyen-sinh-lop-10-3.jpg

Ông Nguyễn Văn Dương.

Quy định chỉ tổ chức thi tuyển sinh lớp 10 khi số lượng học sinh đăng ký vượt quá khả năng tiếp nhận là phù hợp với thực tế của một số địa phương, nhất là các vùng miền núi, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn.

Tại những nơi này, số học sinh đăng ký vào lớp 10 THPT nhiều năm bằng hoặc thấp hơn chỉ tiêu tuyển sinh, vì vậy, tổ chức một kỳ thi tuyển sinh quy mô lớn vừa không cần thiết, vừa có thể gây lãng phí nguồn lực và tạo thêm áp lực tâm lý cho học sinh, phụ huynh. Việc ưu tiên rà soát, điều phối và phân bổ học sinh theo tuyến hoặc theo khu vực địa lý giúp đảm bảo quyền học tập của mọi học sinh, đồng thời tận dụng tối đa cơ sở vật chất sẵn có của các trường THPT trên địa bàn.

Trong trường hợp cần tổ chức thi tuyển, phương án thi 3 môn gồm Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh vẫn có cơ sở để xem xét. Toán và Ngữ văn là những môn học nền tảng, trong khi Tiếng Anh ngày càng giữ vai trò quan trọng như một công cụ giao tiếp, tiếp cận tri thức và hội nhập. Việc duy trì 3 môn thi có thể giúp học sinh có động lực đầu tư tương đối toàn diện cho các năng lực nền tảng, hạn chế tình trạng học lệch hoặc chỉ tập trung vào một số môn để đáp ứng yêu cầu tuyển sinh; từ đó nâng cao được chất lượng giáo dục phổ thông.

Tuy nhiên, cùng với số môn thi, cách thức ra đề và đánh giá cũng cần được thiết kế theo hướng kiểm tra năng lực, giảm yêu cầu học thuộc, học đối phó, qua đó góp phần định hướng việc dạy và học trong nhà trường.

Về tuyển sinh sau tốt nghiệp THCS, để giảm áp lực dồn vào các trường THPT công lập, các địa phương cần đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục, cơ sở vật chất và điều kiện học tập tại các cơ sở giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp; có chính sách hỗ trợ phù hợp để học sinh và phụ huynh yên tâm lựa chọn những hướng học này. Khi các lựa chọn sau THCS thực sự có chất lượng, cơ hội học tập và triển vọng nghề nghiệp, việc phân luồng mới có thể trở thành một lựa chọn tự nhiên thay vì bị nhìn nhận như phương án dành cho những học sinh không vào được THPT công lập.

Bà Trịnh Diệu Hằng - Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học & THCS Quảng Tân (Tây Hồ, Hà Nội): Tuyển sinh từ kết quả quá trình học tập, đánh giá trong một giai đoạn, thay vì một kỳ thi

tuyen-sinh-lop-10-4.jpg

Bà Trịnh Diệu Hằng.

Việc tổ chức tuyển sinh vào lớp 10, dù bằng hình thức thi tuyển hay xét tuyển, vẫn cần thiết trong bối cảnh giáo dục sau THCS tiếp tục được định hướng theo hướng phân luồng giữa trường THPT công lập, ngoài công lập và giáo dục nghề nghiệp. Đây là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho các lĩnh vực khác nhau của xã hội, đồng thời bảo đảm cơ hội học tập phù hợp với năng lực, nhu cầu của học sinh.

Bên cạnh đó, sự phân bố dân cư cơ học không đồng đều giữa các khu vực trong thành phố cũng dẫn đến tình trạng thiếu, thừa học sinh cục bộ ở từng địa bàn, nhà trường. Vì vậy, quy định chỉ tổ chức thi tuyển khi số lượng học sinh đăng ký vượt quá khả năng tiếp nhận có thể giúp giảm áp lực thi cử, chi phí tổ chức và phù hợp hơn với điều kiện thực tế của từng địa phương.

Việc yêu cầu rà soát, điều phối trước khi quyết định phương thức tuyển sinh cũng buộc địa phương phải tính toán, sử dụng hiệu quả mạng lưới trường lớp, thay vì mặc nhiên sử dụng kỳ thi như một công cụ phân luồng ngay từ đầu. Theo hướng này, Sở GD&ĐT có thể căn cứ quy mô học sinh, nhu cầu học tập, khả năng tiếp nhận và mạng lưới trường lớp để lựa chọn phương thức tuyển sinh phù hợp đối với từng trường hoặc nhóm trường.

Đối với những nơi cần tổ chức thi tuyển, việc chỉ thi Toán và Ngữ văn có ưu điểm là tập trung vào hai môn học nền tảng, qua đó đánh giá một số năng lực cốt lõi như tư duy logic, đọc hiểu, diễn đạt và giải quyết vấn đề, đồng thời giảm áp lực ôn thi cho học sinh. Tuy nhiên, phương án này cũng đặt ra vấn đề cần cân nhắc: Tâm lý chung của học sinh và cha mẹ học sinh vẫn có xu hướng tập trung nguồn lực vào những môn được sử dụng để tuyển sinh.

Nếu chỉ có hai môn thi, nguy cơ học lệch ở cấp THCS vẫn có thể xuất hiện. Vì vậy, câu chuyện không chỉ nằm ở việc thi Toán, Ngữ văn hay thêm môn thứ ba, thậm chí không đơn thuần là lựa chọn thi một số môn hay các môn. Điều quan trọng hơn là phải từng bước điều chỉnh tâm lý xã hội về mục tiêu học tập: Học để hình thành kiến thức, năng lực và khả năng ứng dụng vào thực tế, chứ không phải chỉ học để vượt qua một kỳ thi.

Từ góc độ đó, một phương án khác cũng có thể được xem xét là bỏ kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT, chuyển sang xét tuyển hồ sơ, đồng thời tổ chức các bài kiểm tra định kỳ chung trên toàn thành phố. Khi đó, kết quả tuyển sinh có thể dựa trên quá trình học tập và đánh giá trong cả một giai đoạn, thay vì phụ thuộc quá lớn vào kết quả của một kỳ thi tại một thời điểm.

Cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng và tính khách quan của đánh giá thường xuyên, đòi hỏi các bài kiểm tra chung phải được thiết kế nghiêm túc, minh bạch và có khả năng phản ánh tương đối chính xác năng lực học tập của học sinh. Dù lựa chọn thi tuyển hay xét tuyển, mục tiêu cuối cùng vẫn là xây dựng một phương thức tuyển sinh phù hợp với điều kiện từng địa phương, giảm áp lực không cần thiết nhưng đồng thời bảo đảm công bằng, khách quan và tạo động lực để học sinh học tập thực chất trong suốt những năm THCS.

Ông Trịnh Văn Ngoãn - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Vĩnh Long: Phân luồng và quy hoạch mạng lưới trường lớp là giải pháp gốc rễ Phân luồng và quy hoạch mạng lưới trường lớp là giải pháp gốc rễ

tuyen-sinh-lop-10-1.jpg

Ông Trịnh Văn Ngoãn.

Định hướng thay đổi phương án tuyển sinh lớp 10 của Bộ GD&ĐT là rất cần thiết. Tôi hoàn toàn ủng hộ định hướng này.

Với phương án thi tuyển vào lớp 10, Toán và Ngữ văn hoàn toàn đủ năng lực phân loại nếu chúng ta dũng cảm thay đổi triết lý ra đề. Hai môn học này đại diện cho hai trục tọa độ tư duy lớn nhất của nhân loại: Tư duy logic, định lượng (Toán học) và Tư duy ngôn ngữ, công cụ giao tiếp, định tính (Ngữ văn). Lịch sử giáo dục nước nhà giai đoạn trước năm 2019 và mô hình thi tuyển của nhiều quốc gia Đông Á chứng minh phương án thi hai môn vẫn sàng lọc rất tốt những học sinh có nền tảng học thuật vững chắc.

Dù vậy, hạn chế lớn nhất của phương án này dưới lăng kính của Chương trình GDPT 2018 là "khoảng trống thông tin hướng nghiệp". Cấp THCS là giai đoạn giáo dục cơ bản, còn cấp THPT là giai đoạn định hướng nghề nghiệp, nơi học sinh phải chọn các tổ hợp môn học theo định hướng nghề nghiệp (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội…). Nếu chỉ thi Toán và Ngữ văn, dữ liệu đầu vào của các trường THPT sẽ bị khuyết thiếu. Nhà trường sẽ gặp khó khăn trong việc nhận diện năng lực đặc thù, năng khiếu hay sở trường của học sinh để tư vấn, phân lớp tổ hợp một cách chính xác khi các em nhập học lớp 10.

Thiết nghĩ, để phương án tuyển sinh mới phát huy hiệu quả thực chất, cần triển khai thực hiện đồng bộ 5 giải pháp chiến lược sau:

Thứ nhất, cần lấy kết quả quá trình học tập và kết quả đánh giá thông qua một kỳ thi để làm căn cứ tuyển sinh: Việc sử dụng kết quả học tập các năm học cấp THCS (lấy trọng số khoảng 20 - 30%) và kết quả thi tuyển sinh lớp 10 (lấy trọng số khoảng 70 - 80%) làm căn cứ để xét tuyển sinh lớp 10 sẽ là giải pháp khá hữu hiệu để duy trì động lực học tập của học sinh và nền nếp/chất lượng giảng dạy ở tất cả các môn học/hoạt động giáo dục ở tất cả các khối lớp.

Thứ hai, cần tạo sự đột phá trong khâu ra đề thi tuyển sinh lớp 10. Cấu trúc đề thi Toán và Ngữ văn phải đoạn tuyệt với lối học vẹt, ghi nhớ thô ngữ pháp hay thuật toán. Đề thi cần tiệm cận với định hướng đánh giá năng lực giống như mô hình PISA của OECD hoặc đề thi đánh giá năng lực của các đại học lớn hiện nay. Nghĩa là tăng cường các bài toán tối ưu hóa vận dụng thực tiễn, các văn bản đọc hiểu nằm ngoài sách giáo khoa đòi hỏi tư duy phản biện cao.

Thứ ba, cần đánh giá thực chất, số hóa và phân tích dữ liệu điểm số trên học bạ. Để ngăn chặn tình trạng học sinh “buông xuôi” các môn không thi và học đối phó ở các lớp đầu cấp dẫn đến hổng kiến thức nền tảng, Bộ GD&ĐT cần tạo cơ chế để Sở GD&ĐT và chính quyền cấp xã có thẩm quyền kiểm tra kết quả hoặc quá trình thực hiện việc kiểm tra thường xuyên/kiểm tra định kỳ của các cơ sở giáo dục (ví dụ, giao cho Sở GD&ĐT ra đề kiểm tra cuối kỳ). Ứng dụng công nghệ để phân tích dữ liệu, quản trị dựa trên dữ liệu; phân tích dữ liệu điểm số thể hiện trong học bạ để giám sát, đánh giá thực chất kết quả học tập của học sinh giữa các trường THCS; phải triệt tiêu vấn nạn “làm đẹp” học bạ.

Thứ tư, cần xây dựng bộ công cụ hướng nghiệp đầu vào. Các trường THPT sau khi tuyển sinh bằng 2 môn cốt lõi cần chủ động tổ chức các bài trắc nghiệm tâm lý - năng lực không tính điểm (như trắc nghiệm RIASEC hoặc bài test xu hướng năng lực) để làm căn cứ khoa học giúp học sinh, phụ huynh chọn đúng tổ hợp môn học phù hợp khi vào lớp 10, tránh chọn theo phong trào.

Thứ năm, giải quyết gốc rễ bài toán phân luồng và quy hoạch mạng lưới trường lớp. Đây là giải pháp căn cơ nhất của các cấp quản lý và hoạch định chính sách cho ngành Giáo dục.

“Áp lực thi cử sẽ chỉ hạ nhiệt khi xã hội có nhiều con đường để đi. Nhà nước cần đầu tư đồng bộ cho hệ thống các trường trung học nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề chất lượng cao theo mô hình đào tạo kép của Đức. Khi học sinh và phụ huynh thấy rằng tốt nghiệp THCS xong đi học nghề vẫn đảm bảo cơ hội việc làm tốt, thu nhập cao, cơ hội liên thông bình đẳng, áp lực đè nặng lên kỳ thi lớp 10 công lập sẽ tự khắc được giải tỏa”, ông Trịnh Văn Ngoãn chia sẻ.

Tin liên quan

Tin tiêu điểm