Trang thông tin điện tử tổng hợp
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Kết nối nguồn lực, nâng cao chất lượng giáo dục STEM

Thông tư 86/2026/TT-BGDĐT định hướng tổ chức giáo dục STEM gắn với thực tiễn, phát huy phối hợp trường phổ thông với cơ sở giáo dục đại học, nghề nghiệp, và doanh nghiệp.

Cô trò Phenikaa School trong một hoạt động giáo dục STEM.
Cô trò Phenikaa School trong một hoạt động giáo dục STEM.

Liên kết giáo dục STEM cần đi vào chiều sâu

ThS Đỗ Ngọc Anh, Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, Trường Đại học Mở Hà Nội khẳng định, liên kết giáo dục STEM có ý nghĩa quan trọng trong mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, giúp người học vận dụng kiến thức vào thực tiễn và nhận diện hướng phát triển của bản thân.

Với định hướng giáo dục mở, phục vụ nhu cầu học tập đa dạng và học tập suốt đời, Trường Đại học Mở Hà Nội nhìn nhận sự kết nối này như một quá trình liên tục giữa các cấp học, trình độ đào tạo và môi trường nghề nghiệp. Trong đó, giáo dục STEM ở phổ thông tạo nền tảng ban đầu; giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và hoạt động nghiên cứu tiếp tục phát triển năng lực thực hành, sáng tạo và giải quyết vấn đề của người học.

Mỗi bên đều có những thế mạnh có thể bổ sung cho nhau. Trường đại học và viện nghiên cứu có chuyên gia, phương pháp nghiên cứu và môi trường học thuật; cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thế mạnh về thực hành, chế tạo và kỹ năng nghề; doanh nghiệp có công nghệ, quy trình sản xuất và những bài toán thực tế; gia đình, cộng đồng có kinh nghiệm nghề nghiệp và tri thức địa phương.

Đối với Trường Đại học Mở Hà Nội, kinh nghiệm tổ chức đào tạo từ xa, ứng dụng công nghệ trong dạy học và phát triển học liệu số gợi mở những hướng đóng góp phù hợp để đưa nguồn lực chuyên môn đến gần hơn với các nhà trường và cộng đồng.

Theo ThS Đỗ Ngọc Anh, liên kết trong giáo dục STEM đã có những chuyển biến tích cực thông qua hoạt động bồi dưỡng giáo viên, chia sẻ học liệu, tổ chức trải nghiệm và hướng dẫn nghiên cứu khoa học. Dù vậy, mức độ kết nối giữa các bên chưa đồng đều; khả năng duy trì hợp tác thường xuyên và gắn hoạt động của đối tác với mục tiêu giáo dục của từng trường vẫn là vấn đề cần quan tâm.

ThS Đỗ Ngọc Anh nêu ba khó khăn chính. Thứ nhất, nhu cầu và nguồn lực chưa được kết nối sát nhau: trường phổ thông cần hỗ trợ bài học, phương pháp giảng dạy, trong khi hoạt động hợp tác có thể mới dừng ở tham quan, trình diễn hoặc tài trợ thiết bị.

Thứ hai, cơ chế phối hợp chưa rõ, thiếu đầu mối, kinh phí ổn định và phân công trách nhiệm cụ thể nên khó duy trì lâu dài.

Thứ ba, năng lực triển khai và điều kiện tiếp cận giữa các trường còn khác biệt; giáo viên cần được hỗ trợ thiết kế hoạt động liên môn, chuyên gia cần điều chỉnh nội dung phù hợp với người học, trong khi khoảng cách địa lý, chi phí và cơ sở vật chất tiếp tục hạn chế sự tham gia.

Từ thực tiễn giảng dạy tại Trường THPT Huỳnh Tấn Phát, tỉnh Vĩnh Long, thầy Mai Hữu Thuần, giáo viên Sinh học cùng chung nhận định: liên kết giữa trường phổ thông với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp đã được hình thành, nhưng chưa đi vào chiều sâu. Hoạt động hợp tác chủ yếu dừng ở tham quan, trình diễn hoặc trải nghiệm đơn giản, chưa tạo được hiệu quả rõ nét đối với quá trình học tập của học sinh.

Theo thầy Thuần, một trong những nguyên nhân là khoảng cách giữa người truyền đạt, hướng dẫn tại các trường đại học, cao đẳng với giáo viên và học sinh phổ thông, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất tại nhiều trường phổ thông ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn khó khăn, chưa được đầu tư đồng bộ. Kinh phí tổ chức và triển khai hoạt động STEM cũng là trở ngại lớn khi nguồn hỗ trợ còn hạn chế.

screenhunter-622-oct-25-1519.jpg

Học sinh Trường THPT Huỳnh Tấn Phát trong một hoạt động về giáo dục STEM.

Thiết lập cơ chế phối hợp thực chất, bền vững

Từ thực tiễn tổ chức chương trình STEM trong nhà trường, cô Phạm Thị Yến, phụ trách chương trình STEM Phenikaa School đánh giá: Thông tư số 86/2026/TT-BGDĐT tạo hành lang pháp lý và định hướng thống nhất cho hoạt động giáo dục STEM. Thông tư xác định vai trò phối hợp của các trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cộng đồng, tạo cơ sở để gắn kiến thức trong nhà trường với khoa học, công nghệ, sản xuất và đời sống.

Để quy định đi vào thực chất, cô Phạm Thị Yến cho rằng, cần chuyển từ tư duy hợp tác theo từng hoạt động sang hợp tác dựa trên chương trình giáo dục. Nhà trường phải chủ động xác định mục tiêu, nội dung và nhu cầu hợp tác, xuất phát từ chương trình giáo dục phổ thông và năng lực cần hình thành cho học sinh. Trên cơ sở đó, các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp tham gia cung cấp chuyên môn, công nghệ, môi trường trải nghiệm và bài toán thực tiễn.

Chẳng hạn, thay vì chỉ tổ chức một buổi tham quan doanh nghiệp, nhà trường có thể cùng doanh nghiệp xây dựng dự án STEM về năng lượng tái tạo, môi trường hoặc tự động hóa. Học sinh được tiếp cận vấn đề thực tế, nghiên cứu giải pháp, thiết kế mô hình, thử nghiệm và cải tiến sản phẩm dưới sự hướng dẫn của giáo viên và chuyên gia. Khi đó, hoạt động hợp tác trở thành một phần của quá trình học tập, thay vì một trải nghiệm tách rời chương trình giáo dục.

Cô Yến cũng nhấn mạnh việc phát huy đúng thế mạnh của từng chủ thể trong hệ sinh thái giáo dục STEM. Trường phổ thông đóng vai trò định hướng sư phạm, thiết kế và tổ chức hoạt động học tập; trường đại học và viện nghiên cứu hỗ trợ chuyên môn, phương pháp nghiên cứu và bồi dưỡng giáo viên; doanh nghiệp mang đến các vấn đề thực tiễn, công nghệ và môi trường ứng dụng; trong khi cộng đồng và phụ huynh góp phần kết nối các hoạt động STEM với nhu cầu thực tế của địa phương.

Chuyên gia có thể mang đến tri thức và công nghệ, nhưng giáo viên chính là người chuyển hóa những nguồn lực đó thành trải nghiệm giáo dục phù hợp với năng lực học sinh phổ thông. Vì vậy, hợp tác STEM cần ưu tiên cả hoạt động đồng thiết kế bài học, tập huấn chuyên môn và hỗ trợ giáo viên triển khai dự án, thay vì chỉ tập trung vào các hoạt động dành cho học sinh.

Một yêu cầu khác là xây dựng mô hình hợp tác linh hoạt, phù hợp với điều kiện của từng nhà trường. Giáo dục STEM không nhất thiết phải bắt đầu từ những phòng thí nghiệm hiện đại hay các khoản đầu tư lớn. Một dự án giải quyết vấn đề về tiết kiệm nước, phân loại rác thải, cải thiện môi trường học đường hoặc phát triển sản phẩm từ vật liệu tái chế hoàn toàn có thể mang lại giá trị giáo dục sâu sắc nếu được thiết kế đúng phương pháp.

Đối với các trường có điều kiện thuận lợi, có thể phát triển các mô hình phòng thí nghiệm mở, chương trình nghiên cứu khoa học có chuyên gia hướng dẫn hoặc dự án hợp tác dài hạn với trường đại học và doanh nghiệp. Với các trường còn hạn chế về nguồn lực, có thể ưu tiên kết nối với các cơ sở giáo dục, làng nghề, đơn vị sản xuất và tổ chức cộng đồng tại địa phương, đồng thời khai thác học liệu số, thí nghiệm mô phỏng và các hình thức hợp tác trực tuyến.

Theo cô Yến, điều quan trọng là bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục STEM cho học sinh, tránh để sự khác biệt về điều kiện kinh tế và cơ sở vật chất trở thành khoảng cách trong chất lượng giáo dục.

Cuối cùng, cô Phạm Thị Yến nhắc đến yêu cầu thiết lập cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả hợp tác theo hướng thực chất, bền vững. Các chương trình hợp tác cần có kế hoạch cụ thể, phân định rõ trách nhiệm của từng bên, bảo đảm an toàn cho học sinh và có tiêu chí đánh giá kết quả giáo dục.

Đưa giải pháp, thầy Mai Hữu Thuần nhấn mạnh vai trò của đội ngũ và trách nhiệm của lãnh đạo nhà trường. Theo đó, lãnh đạo cần có tư duy chiến lược, cởi mở, tạo điều kiện để giáo viên và học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm. Giáo viên phụ trách STEM cần được tập huấn, đồng thời chia sẻ kiến thức, hướng dẫn đồng nghiệp để triển khai hoạt động đồng bộ trong nhà trường.

Thầy Thuần đồng thời đề xuất xây dựng chuẩn đầu ra đối với giáo viên và học sinh; tăng cường liên kết chuyên sâu với các trường đại học, cao đẳng, gắn hợp tác với đánh giá kết quả đầu ra. Công tác truyền thông cũng cần được đẩy mạnh để học sinh và phụ huynh hiểu rõ hơn về hiệu quả, giá trị của giáo dục STEM.

“Hiệu quả không nên chỉ được đo bằng số lượng chương trình hay sản phẩm STEM, mà cần được nhìn nhận thông qua khả năng vận dụng kiến thức, tư duy phản biện, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác và sự tiến bộ của học sinh”, cô Phạm Thị Yến cho hay.

Tin liên quan

VIDEO

Tin tiêu điểm