![]() |
| Giảng viên Trường Đại học Công nghệ thông tin (Đại học Quốc gia TP HCM) trao đổi với học sinh trong chương trình UniTour 2026. Ảnh: UIT. |
Các chuyên gia nhận định, đây không chỉ là vấn đề hành chính hay thu hút lao động đơn thuần mà còn là chiến lược dài hạn nhằm kết nối với dòng chảy tri thức toàn cầu, tạo động lực cho đổi mới sáng tạo và thúc đẩy tăng trưởng dựa trên công nghệ.
Khu vực công thiếu nhân lực chất lượng cao
Sau sáp nhập, TPHCM bước vào giai đoạn phát triển mới với quy mô dân số hơn 14 triệu người. Tuy nhiên, cùng với áp lực quản trị của một đô thị đặc biệt, thành phố đang đối mặt tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực công.
Ông Phạm Thành Nhân, Phó Giám đốc Sở Nội vụ TPHCM, cho biết giai đoạn 2020 - 2023, tỷ lệ nhân lực trình độ cao tại thành phố còn rất thấp. Cụ thể, chỉ khoảng 0,5% cán bộ cấp huyện (cũ) có trình độ tiến sĩ, tương đương 68 người; trong khi viên chức sự nghiệp có trình độ này cũng chỉ đạt khoảng 1,1%, với hơn 1.000 người.
Trước thực trạng đó, HĐND TPHCM đã ban hành Nghị quyết 27/2023 nhằm tái thiết lập sức hút thể chế, tạo cơ chế đãi ngộ vượt trội để thu hút chuyên gia, nhà khoa học. Theo đó, chính sách mới cho phép chi trả mức lương từ 30 - 100 triệu đồng/tháng, trợ cấp ban đầu lên tới 100 triệu đồng, hỗ trợ nhà ở 7 triệu đồng/tháng và thưởng tối đa 1 tỷ đồng đối với các tài năng đặc biệt.
Theo ông Nhân, trong giai đoạn 2018 - 2024, TPHCM đã thu hút được 10 chuyên gia, nhà khoa học, trong đó ký hợp đồng với 8 trường hợp. Các chuyên gia chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực vi mạch, MEMS, vật liệu nano và nông nghiệp công nghệ cao.
Dù vậy, việc thu hút nhân lực chất lượng cao vẫn còn nhiều hạn chế. Thu nhập trong khu vực công khó cạnh tranh với doanh nghiệp tư nhân và khối FDI; điều kiện nhà ở, hỗ trợ gia đình chuyên gia chưa tương xứng; hoạt động truyền thông quốc tế về chính sách thu hút còn hạn chế. Bên cạnh đó, thủ tục xuất nhập cảnh, giấy phép lao động vẫn phức tạp; quá trình triển khai bị gián đoạn bởi dịch Covid-19 và việc sắp xếp bộ máy sau sáp nhập. Đáng chú ý, TPHCM hiện vẫn chưa thu hút được chuyên gia trong các lĩnh vực mới như fintech, UAV, bán dẫn hay chuyển đổi số - những ngành được xem là động lực tăng trưởng của giai đoạn tới.
Thực tế tại TPHCM cũng cho thấy bài toán thu hút nhân lực chất lượng cao không chỉ nằm ở chế độ đãi ngộ mà còn liên quan đến cơ chế thị thực, môi trường làm việc và hệ sinh thái phát triển nhân tài.
Công cụ cạnh tranh quốc gia
Tại hội thảo khoa học cấp quốc gia “Thị thực nhân tài và chính sách thu hút nguồn lực chất lượng cao phục vụ phát triển đất nước” do Đại học Quốc gia TP.HCM phối hợp với Học viện Chính trị khu vực II - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức ngày 20/5, nhiều chuyên gia, nhà khoa học đã đề xuất các giải pháp đột phá nhằm xây dựng chính sách thị thực nhân tài đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Ông Ngô Đông Hải, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, nhận định việc nghiên cứu, hoàn thiện chính sách thị thực nhân tài không chỉ là yêu cầu cấp thiết trước mắt mà còn là chiến lược dài hạn của Việt Nam. Chính sách này cần hướng tới mục tiêu thu hút chuyên gia, trí thức quốc tế và kiều bào tham gia phát triển đất nước, tạo động lực cho đổi mới sáng tạo và thúc đẩy chuyển dịch mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ.
Theo ông, dù Đảng và Nhà nước thời gian qua đã có nhiều chủ trương đúng đắn về thu hút, trọng dụng nhân tài, song hệ thống chính sách hiện nay vẫn còn phân tán, thiếu tính đột phá và chưa thực sự linh hoạt. Việt Nam cũng chưa có các cơ chế đặc thù về cư trú, lao động, tài chính cũng như bảo đảm điều kiện sống lâu dài cho chuyên gia quốc tế.
Ông Hải cho rằng môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ hiện chưa đủ sức cạnh tranh quốc tế. Hệ sinh thái thu hút nhân tài còn thiếu đồng bộ khi sự liên kết giữa Nhà nước - doanh nghiệp - viện nghiên cứu - trường đại học vẫn còn hạn chế; chưa hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo đóng vai trò “cực hút” nhân tài của khu vực và toàn cầu.

GS Bruce Vũ, thỉnh giảng trong lĩnh vực kỹ thuật hàng không - vũ trụ và vật lý ứng dụng tại Trường Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TP HCM) theo diện thu hút giáo sư đầu ngành. Ảnh: Mạnh Tùng.
Từ thực tế đó, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cho rằng cần chuyển từ tư duy “thu hút” sang “cạnh tranh nhân tài toàn cầu”, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm từ các quốc gia như Singapore và Ấn Độ để xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Theo định hướng này, Việt Nam cần thiết kế cơ chế thị thực nhân tài thông thoáng, cạnh tranh hơn; thí điểm các mô hình đặc thù theo hướng sandbox chính sách; đặt doanh nghiệp và thị trường vào vị trí trung tâm của hệ sinh thái nhân tài. Song song đó là hoàn thiện cơ chế đãi ngộ, sử dụng và đánh giá nhân tài theo hướng toàn diện, từ thị thực, cư trú, thu nhập đến môi trường sống.
Xây dựng hệ sinh thái đồng bộ
GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai, Đại học Quốc gia TPHCM, cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt đối với nguồn nhân lực chất lượng cao, thị thực nhân tài không nên chỉ được nhìn nhận như một thủ tục hành chính hay chính sách nhập cư đơn thuần. Theo bà Mai, đây cần được xem là công cụ chiến lược trong cạnh tranh quốc gia về nhân tài, là “cánh cửa” giúp Việt Nam kết nối với dòng chảy tri thức toàn cầu, đồng thời thể hiện mức độ sẵn sàng của thể chế trong việc chào đón và trọng dụng người tài.
Bà nhấn mạnh, các quốc gia thành công không chỉ hấp dẫn nhân tài bằng ưu đãi tài chính mà còn bằng một hệ sinh thái đồng bộ gồm cơ chế thị thực linh hoạt, môi trường học thuật cởi mở, hạ tầng nghiên cứu hiện đại, cơ hội khởi nghiệp, thương mại hóa kết quả nghiên cứu cùng chính sách hỗ trợ gia đình và chất lượng sống hấp dẫn.

Sinh viên Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM) trong giờ thực hành. Ảnh: NTCC.
Ở góc độ địa phương, ông Phạm Thành Nhân đề xuất 5 giải pháp đột phá cho TPHCM nhằm gia tăng sức hút đối với chuyên gia và nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong đó, thành phố cần phân cấp mạnh hơn cho người đứng đầu đơn vị trong tuyển chọn nhân tài, bỏ khâu trình Chủ tịch UBND phê duyệt chỉ tiêu để rút ngắn thời gian tuyển dụng. Đồng thời, xây dựng môi trường làm việc lý tưởng thông qua hỗ trợ nhà ở, đi lại và tạo điều kiện để gia đình chuyên gia tiếp cận trường quốc tế, bệnh viện chất lượng cao.
Ông Nhân cũng đề xuất thí điểm thị thực công nghệ dài hạn từ 5 - 10 năm theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, hướng tới mô hình thị thực cá nhân hóa nhằm tạo sự linh hoạt cho chuyên gia trong nghiên cứu, giảng dạy và khởi nghiệp. Ngoài ra, TPHCM cần cơ cấu lại hội đồng tuyển chọn theo hướng linh hoạt, có sự tham gia của cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng và chuyên gia độc lập từ viện nghiên cứu, trường đại học nhằm bảo đảm khách quan, sát nhu cầu thực tiễn.
PGS.TS Nguyễn Tấn Vinh, Giám đốc Học viện Chính trị khu vực II, cho rằng để chính sách thị thực nhân tài phát huy hiệu quả, Việt Nam cần xây dựng đồng bộ hệ sinh thái thu hút và sử dụng nhân tài. Theo ông Vinh, cải cách thủ tục hành chính, triển khai thị thực điện tử và rút ngắn thời gian xử lý là điều kiện quan trọng nhằm tạo thuận lợi cho chuyên gia, nhà khoa học quốc tế đến làm việc tại Việt Nam. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành bởi các vấn đề liên quan đến thị thực, cư trú, lao động, khoa học công nghệ, giáo dục và doanh nghiệp hiện vẫn còn phân tán, thiếu đồng bộ.



