Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Chính sách có hiệu lực từ tháng 4 năm 2026

Chính sách GD hiệu lực từ tháng 4/2026 liên quan đến thi tốt nghiệp THPT; văn bằng, chứng chỉ; đánh giá diện rộng, đánh giá năng lực ngoại ngữ.

Chuẩn hóa nội dung giáo dục hướng nghiệp, rõ định hướng phân luồng học sinh
Chuẩn hóa nội dung giáo dục hướng nghiệp, rõ định hướng phân luồng học sinh

Quy chế thi tốt nghiệp THPT

Thông tư số 13/TT-BGDĐT ngày 9/3/2026 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế thi tốt nghiệp THPT có hiệu lực từ 24/4/2026.

Theo đó, Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 tiếp tục giữ ổn định như năm 2025. Định dạng, cấu trúc đề thi và đề thi minh họa đã được công bố từ năm 2024, giữ ổn định cho cả năm 2025 và 2026.

Thông tư mới chỉ điều chỉnh một số nội dung để bảo đảm phù hợp với mô hình quản lý chính quyền địa phương 2 cấp, việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, sắp xếp lại bộ máy thanh tra; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu tổ chức thi.

Một số điểm mới của Thông tư số 13/TT-BGDĐT như sau:

Thứ nhất, sửa đổi các quy định liên quan đến thanh tra, kiểm tra trong Kỳ thi nhằm bảo đảm phù hợp với việc chuyển bộ phận thanh tra giáo dục các cấp về Thanh tra Chính phủ và Thanh tra tỉnh.

Thứ hai, điều chỉnh một số quy định, quy trình tổ chức thi để bảo đảm phù hợp và thuận tiện hơn cho các đơn vị trong bối cảnh sắp xếp lại đơn vị quản lý chính quyền địa phương 2 cấp và sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Theo đó, hồ sơ đăng ký dự thi chỉ lưu tại trường phổ thông; tích hợp giấy báo dự thi và thẻ dự thi thành một loại duy nhất là “Giấy báo dự thi” do trường phổ thông nơi thí sinh nộp hồ sơ đăng ký dự thi cấp; đồng thời tích hợp Giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời và Giấy chứng nhận kết quả thi thành “Giấy chứng nhận kết quả thi”, do trường phổ thông nơi thí sinh nộp hồ sơ đăng ký dự thi cấp.

Thứ ba, giảm thời gian thu nhận đơn phúc khảo để thông báo kết quả phúc khảo sớm hơn, đồng thời thuận tiện cho công tác tuyển sinh của các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.

Thứ tư, điều chỉnh quy trình chấm phúc khảo nhằm tăng cường hiệu quả, chất lượng; theo đó quy định tất cả các bài thi có thay đổi điểm trong quá trình phúc khảo đều phải được đối thoại.

Thứ năm, điều chỉnh các diện ưu tiên theo hướng phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và đồng nhất với các đối tượng ưu tiên trong công tác tuyển sinh, tạo thuận lợi cho việc rà soát của các đơn vị ngay từ khâu đăng ký dự thi.

Thứ sáu, tiếp tục tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổ chức thi; trong đó tối ưu hóa việc truyền dữ liệu giữa các Hội đồng thi và Bộ GD&ĐT thông qua hệ thống quản lý thi, giảm bớt các công việc thủ công (như gửi đĩa CD qua đường bưu điện), góp phần tăng tốc độ xử lý.

thi9.jpg

Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân

Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/4/2026.

Quy chế quy định chi tiết các nội dung mới về quản lý văn bằng, chứng chỉ được đề cập trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) và Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi).

Theo đó, những nội dung mới gồm: thay việc cấp bằng tốt nghiệp THCS bằng xác nhận hoàn thành chương trình THCS trong học bạ; giao hiệu trưởng cấp bằng tốt nghiệp THPT; bổ sung bằng trung học nghề; bổ sung hình thức văn bằng số, chứng chỉ số; đồng thời mở rộng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả VBCC của giáo dục nghề nghiệp.

Thông tư cũng thay thế toàn bộ các quy định về văn bằng, chứng chỉ trước đây được ban hành rải rác ở nhiều văn bản của Bộ GD&ĐT và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trước đây, tạo thuận lợi cho cơ sở giáo dục, cán bộ quản lý và người học trong nghiên cứu, thực hiện.

Quy chế cũng thể chế hóa chủ trương chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục và đào tạo, đặc biệt trong công tác quản lý văn bằng, chứng chỉ.

Cụ thể, bổ sung khái niệm văn bằng, chứng chỉ số; quy định việc cấp, lưu trữ, xử lý; cấp bản sao, chỉnh sửa, thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ số; quy định xây dựng, cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu (CSDL) văn bằng, chứng chỉ và danh mục các trường thông tin bắt buộc cập nhật.

Bộ GD&ĐT xây dựng CSDL văn bằng, chứng chỉ dùng chung toàn quốc để phục vụ cấp văn bằng, chứng chỉ số, lưu trữ dữ liệu đã cấp và công khai thông tin về cấp văn bằng, chứng chỉ.

Việc cập nhật, công khai thông tin được áp dụng cả với văn bằng, chứng chỉ đã cấp trước khi Thông tư có hiệu lực. Thông tin trích xuất từ CSDL có giá trị pháp lý như thông tin trong sổ gốc; thông tin tra cứu từ CSDL hoặc trên ứng dụng VNeID được sử dụng thay cho bản sao từ sổ gốc và có giá trị xác minh văn bằng, chứng chỉ.

Các quy định cũng yêu cầu cập nhật đầy đủ dữ liệu khi cấp, cấp lại, chỉnh sửa, thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ, bảo đảm nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, chia sẻ, dùng chung”. Toàn bộ Quy chế được xây dựng theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, triển khai văn bằng, chứng chỉ số đồng bộ với văn bằng, chứng chỉ giấy.

Thời hạn cấp bằng tốt nghiệp THPT (giấy) được rút ngắn từ 75 ngày xuống còn 30 ngày; thời hạn cấp văn bằng, chứng chỉ số là 5 ngày kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp.

Các thủ tục liên quan được quy định theo hướng cắt giảm giấy tờ, tăng khai thác và chia sẻ dữ liệu từ các CSDL liên quan; ưu tiên giải quyết trên môi trường điện tử; không yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin đã có trên các hệ thống dữ liệu của cơ quan nhà nước.

Quy chế đồng thời thể chế hóa chủ trương tại Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục gắn với kiểm tra, giám sát hiệu quả.

Cụ thể, Quy chế phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân liên quan. Trong đó, Bộ GD&ĐT tập trung ban hành quy định, thực hiện quản lý Nhà nước theo pháp luật, không làm thay địa phương, cơ sở.

Bỏ quy định Bộ GD&ĐT in phôi văn bằng, chứng chỉ, phân cấp cho Sở GD&ĐT hoặc cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ (đối với văn bằng, chứng chỉ giấy).

Không quy định mẫu văn bằng đại học, giáo dục nghề nghiệp và mẫu chứng chỉ (chỉ quy định nội dung chính ghi trên văn bằng, chứng chỉ), trừ mẫu bằng tốt nghiệp THPT để bảo đảm thống nhất toàn quốc. Đồng thời không quy định mẫu sổ gốc, phụ lục sổ gốc, sổ cấp bản sao… mà chỉ quy định nội dung chính, nhằm tăng tính tự chủ cho cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ.

Quy chế bổ sung quy định giao cấp phó ký văn bằng, chứng chỉ; giao quyền ký bản sao văn bằng, chứng chỉ để giảm tải cho người đứng đầu; quy định các trường hợp đặc biệt khi cấp bản sao từ sổ gốc, cấp lại, chỉnh sửa nội dung, thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ trong các tình huống như không còn sổ gốc, không còn người có thẩm quyền, hoặc khi cơ quan có thẩm quyền sáp nhập, chia tách, giải thể.

Đối với các vấn đề tồn đọng liên quan đến bằng tốt nghiệp THCS, giao Sở GD&ĐT xử lý; UBND cấp xã có trách nhiệm bàn giao sổ gốc cấp bằng và tài liệu liên quan về Sở GD&ĐT trước ngày 31/5/2026.

tuyen-sinh.jpg

Ảnh: Vân Anh.

Quy định tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ, tổ chức thi đánh giá năng lực tiếng Việt

Thông tư số 09/2026/TT-BGDĐT quy định tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ, tổ chức thi đánh giá năng lực tiếng Việt có hiệu lực thi hành từ 15/4/2026.

Thông tư số 09/2026/TT-BGDĐT tích hợp đầy đủ các quy định về thi đánh giá năng lực ngoại ngữ trước đây được ban hành tại Thông tư số 23/2017/TT-BGDĐT ngày 29/9/2017 (được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 24/2021/TT-BGDĐT ngày 8/9/2021) và các quy định về thi đánh giá năng lực tiếng Việt tại Thông tư số 27/2021/TT-BGDĐT ngày 7/10/2021.

Bên cạnh việc kế thừa những nội dung, quy trình và quy định trước đây đã ổn định, thông tư mới cũng quy định rõ việc chịu trách nhiệm toàn diện của các đơn vị trong tổ chức thi; yêu cầu các đơn vị tổ chức thi ban hành Quy chế về công tác tổ chức thi tại đơn vị mình, bảo đảm có các thông tin cốt lõi như: quy định về công tác tổ chức, hoạt động và liên kết; công tác tài chính; công tác công khai thông tin.

Bên cạnh đó, Thông tư quy định việc tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu của công tác tổ chức thi; đưa ra các giải pháp tổ chức thi bảo đảm an toàn, khách quan, công bằng và nghiêm túc; phân công rõ trách nhiệm các bộ phận tham gia tổ chức thi; bảo mật đề thi trước, trong và sau các đợt tổ chức thi.

Đáng chú ý, Thông tư cho phép các đơn vị liên kết để mở rộng quy mô tổ chức thi (có thể tổ chức thi ở nước ngoài), phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay.

Đồng thời, khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở giáo dục Việt Nam thành lập phân hiệu, mở văn phòng đại diện hoặc triển khai chương trình giáo dục ở nước ngoài; đẩy mạnh hợp tác, mở rộng giảng dạy tiếng Việt, lan tỏa các giá trị văn hóa, truyền thống Việt Nam tại nước ngoài, nhất là trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo). Qua đó, tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục được tổ chức thi đánh giá năng lực tiếng Việt ở nước ngoài.

thpt-vinh-xuan.jpg

Quy định về đánh giá diện rộng cấp quốc gia chất lượng giáo dục phổ thông

Thông tư số 08/2026/TT-BGDĐT quy định về đánh giá diện rộng cấp quốc gia chất lượng giáo dục phổ thông có hiệu lực từ 15/4/2026.

So với Thông tư số 51/2011/TT-BGDĐT, Thông tư số 08/2026/TT-BGDĐT có một số điểm mới đáng chú ý.

Thứ nhất, về mục tiêu đánh giá: Thông tư số 08/2026/TT-BGDĐT quy định việc đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông theo hướng toàn diện hơn, không chỉ tập trung vào kết quả học tập về kiến thức và kỹ năng của học sinh mà còn chú trọng đánh giá phẩm chất và năng lực của học sinh theo yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành.

Thứ hai, về quy mô và chu kỳ đánh giá: Thông tư quy định việc đánh giá được thực hiện đối với học sinh lớp 5 và lớp 9 trên phạm vi toàn quốc theo phương pháp chọn mẫu. Chu kỳ đánh giá được thực hiện 5 năm một lần, bảo đảm theo dõi xu hướng phát triển chất lượng giáo dục phổ thông theo từng giai đoạn.

Thứ ba, về nội dung đánh giá: Nội dung đánh giá được thiết kế thành các bài khảo sát tích hợp, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của chương trình đánh giá diện rộng (tương tự cách tiếp cận các chương trình quốc tế). Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định việc sử dụng phiếu hỏi đối với các đối tượng liên quan nhằm thu thập các nhân tố tác động đến chất lượng giáo dục.

Thứ tư, về hình thức đánh giá: Hoạt động khảo sát được tổ chức bằng nhiều hình thức linh hoạt như trả lời bài khảo sát trên máy vi tính, trên giấy hoặc kết hợp giữa máy vi tính và trên giấy, phù hợp với điều kiện thực tế của các địa phương.

Thứ năm, về phân cấp và tổ chức thực hiện: Thông tư quy định cụ thể việc phân cấp, phân quyền và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện chương trình đánh giá diện rộng. Theo đó, Bộ GD&ĐT thành lập Ban Chỉ đạo cấp quốc gia và Tổ Thư ký giúp việc; tại địa phương, Giám đốc Sở GD&ĐT thành lập Ban Khảo sát cấp tỉnh để tổ chức triển khai khảo sát theo kế hoạch.

Thứ sáu, về hợp tác quốc tế: Thông tư có quy định riêng về việc triển khai các chương trình đánh giá diện rộng quốc tế mà Việt Nam tham gia theo các thỏa thuận với các tổ chức quốc tế, góp phần tăng cường hội nhập quốc tế trong lĩnh vực đánh giá giáo dục.

Quy định thi đua, khen thưởng đối với ngành Giáo dục

Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành Thông tư Thông tư 7/2026/TT-BGDĐT Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và Nghị định số 152/2025/NĐ-CP ngày 14/6/2025 của Chính phủ quy định về phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng đối với ngành Giáo dục. Thông tư này có hiệu lực từ 2/4/2026.

Thích

Tin liên quan

Tin tiêu điểm