Logo
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đánh giá 2 năm thực thi Hiệp định EVFTA tại Việt Nam từ góc nhìn doanh nghiệp

Sau hơn 2 năm thực thi, Hiệp định EVFTA đã góp một phần quan trọng, làm giảm nhẹ các tác động bất lợi và thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và EU.

Doanh nghiệp đang tận dụng khá tốt Hiệp định EVFTA

Ngày 10/11, tại Hà Nội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), phối hợp với Viện FNF Việt Nam tổ chức Hội thảo: “Đánh giá 2 năm thực thi EVFTA tại Việt Nam từ góc nhìn doanh nghiệp”. Đồng thời, công bố báo cáo “Việt Nam sau 2 năm thực thi EVFTA từ góc nhìn doanh nghiệp” dựa trên kết quả khảo sát hơn 500 doanh nghiệp trên cả nước và nghiên cứu rà soát đánh giá các văn bản pháp luật thực thi EVFTA trong 2 năm qua.

Đánh giá 2 năm thực thi Hiệp định EVFTA tại Việt Nam từ góc nhìn doanh nghiệp
Tổng kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang EU sau 2 năm đầu tiên thực thi Hiệp định EVFTA (từ tháng 8/2020-7/2022) đạt 83,4 tỷ USD

Theo ông Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch VCCI, tổng kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang EU sau 2 năm đầu tiên thực thi Hiệp định EVFTA (từ tháng 8/2020-7/2022) đạt 83,4 tỷ USD, tức trung bình 41,7 tỷ USD/năm, cao hơn tới 24% so với kim ngạch xuất khẩu trung bình năm giai đoạn 2016-2019 trước đó. Tỷ lệ hàng xuất khẩu tận dụng ưu đãi thuế quan EVFTA năm 2020 đạt 14,8%, tăng lên 20,2% năm 2021 và 24,5% trong 6 tháng năm 2022.

Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), theo số liệu từ VCCI, FDI của EU vào Việt Nam năm 2020 đạt gần 1.376 triệu USD vốn đăng ký, giảm 8,6% so với năm 2019, đứng thứ 8 và chiếm 4,8% tổng vốn FDI vào Việt Nam.

Năm 2021, tình hình thu hút FDI có cải thiện hơn, với tổng vốn đầu tư hơn 1.405 triệu USD, tăng 2,2%, giúp EU vươn lên đứng thứ 5, nhưng tỷ trọng trong tổng FDI giảm nhẹ, chiếm 4,5%. Đặc biệt, tổng vốn đầu tư bình quân năm 2017-2021 tăng 86% so với thời gian 2015-2016 liền trước đó. Tuy nhiên, đầu tư vào Việt Nam mới chỉ chiếm một tỷ trọng rất khiêm tốn trong tổng đầu tư ra nước ngoài của EU.

Phát biểu tại hội thảo, bà Nguyễn Cẩm Trang - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho rằng: EVFTA đã góp phần đáng kể thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường đối tác. Cụ thể, trong 2 năm thực thi Hiệp định EVFTA, nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng sang thị trường EU như: Sắt thép tăng 739%; máy ảnh, máy quay phim, linh kiện tăng 260%; máy móc và thiết bị tăng 82,3%.

Cùng với đó, một số mặt hàng mới cũng có tăng trưởng cao sang thị trường EU trong giai đoạn này như: Gạo, sản phẩm mây tre, cói thảm tăng trên 50%; các sản phẩm gốm, sứ tăng trên 25%; nhóm rau quả, dây điện và dây cáp điện tăng trên 15%.

Đánh giá 2 năm thực thi Hiệp định EVFTA tại Việt Nam từ góc nhìn doanh nghiệp
Tỷ lệ các doanh nghiệp Việt Nam từng được hưởng lợi từ EVFTA là rất khả quan

Từ góc độ của từng doanh nghiệp, thông tin từ kết quả khảo sát về EVFTA được bà Nguyễn Thị Thu Trang - Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập - VCCI thông tin: Tỷ lệ các doanh nghiệp Việt Nam từng được hưởng lợi từ EVFTA là rất khả quan, với gần 41% doanh nghiệp cho biết, đã từng được hưởng ít nhất một lợi ích nào đó từ EVFTA.

“Trong đó, lợi ích phổ biến nhất là từ các ưu đãi thuế quan đối với hàng xuất nhập khẩu và hiệu ứng tích cực trong gia tăng đơn hàng, doanh thu, lợi nhuận”, bà Nguyễn Thị Thu Trang nhấn mạnh.

Doanh nghiệp cần tiếp tục đổi mới để thích ứng với thị trường EU

Theo đánh giá của các diễn giả tại hội thảo, các doanh nghiệp đã tận dụng khá tốt các cơ hội từ EVFTA. Cụ thể, theo bà Nguyễn Thị Thu Trang: EVFTA là hiệp định thương mại tự do mà được số lượng doanh nghiệp biết đến nhiều nhất đến thời điểm này với khoảng 94% doanh nghiệp từng nghe nói hoặc biết ở các mức độ khác nhau về EVFTA. Đồng thời, cũng là FTA mà có tỷ lệ doanh nghiệp biết rõ nhiều nhất.

“Cứ 10 doanh nghiệp thì có tới 3 doanh nghiệp biết rõ về EVFTA và 1 doanh nghiệp biết rất rõ về các cam kết của EVFTA có liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình”, bà Nguyễn Thị Thu Trang khẳng định.

EU là một thị trường có tiêu chuẩn cao, nhưng mức chi trả cũng rất cao, nên đây sẽ là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam khai thác, tận dụng hội xâm nhập vào thị trường. Đó cũng là lý do, kết quả khảo sát của 500 doanh nghiệp cho thấy, nhìn về tương lai, 76% doanh nghiệp cho rằng, EVFTA và các FTA sẽ có tác động tới triển vọng kinh doanh trong 3 năm tới, và phần lớn lạc quan đây sẽ là các tác động tích cực.

Đánh giá 2 năm thực thi Hiệp định EVFTA tại Việt Nam từ góc nhìn doanh nghiệp
Cứ 10 doanh nghiệp thì có tới 3 doanh nghiệp biết rõ về EVFTA và 1 doanh nghiệp biết rất rõ về các cam kết của EVFTA có liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình

Cơ hội thúc đẩy xuất khẩu sang EU thông qua EVFTA là rất lớn, báo cáo của VCCI cũng cho thấy, doanh nghiệp cũng chỉ ra các lực cản có thể khiến họ khó hưởng lợi từ EVFTA và các FTA. Đáng kể nhất là các biến động và bất định của thị trường (47% doanh nghiệp đề cập), năng lực cạnh tranh hạn chế (46%), thiếu thông tin về cam kết và thách thức tận dụng (40%).

Về công tác xây dựng pháp luật thực thi EVFTA, kết quả rà soát của VCCI cho thấy, trong 2 năm qua, đã có tổng cộng 9 văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung, ban hành, nhằm thực thi các cam kết cụ thể của Văn kiện EVFTA.

Phần lớn các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật thực thi EVFTA đều tương thích với cam kết của Hiệp định mà chúng “nội luật hoá”. Tuy nhiên, một số văn bản ban hành chậm và chưa bám sát các cam kết của EVFTA, khiến việc tận dụng cơ hội từ EVFTA chưa hiệu quả.

Trên cơ sở đó, để tận dụng tốt hơn những cơ hội từ EVFTA, TS Cao Xuân Phong – Trưởng ban Nghiên cứu pháp luật quốc tế - Viện Khoa học pháp lý cho rằng, cần cải cách pháp luật, thể chế trong bối cảnh thực thi EVFTA và các FTA thế hệ mới trong thời gian tới.

Trong khi đó, theo bà Nguyễn Cẩm trang - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương): Bản thân các doanh nghiệp cũng cần chủ động tận dụng cơ hội từ EVFTA, sự chủ động ở đây có thể nhìn nhận qua việc chủ động nắm bắt thông tin về thị trường thế giới, các tác động của kinh tế thế giới, khủng hoảng Nga - Ukraine, lạm phát tại EU tác động đến nhu cầu nhập khẩu, ảnh hưởng đến tiến độ nhận hàng… để chủ động trong kế hoạch sản xuất, kinh doanh để giao hàng.

"Cùng với đó, doanh nghiệp cũng cần chủ động đổi mới phương thức sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, tạo ra những sản phẩm hàng hoá có chất lượng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường EU" - bà Nguyễn Cẩm Trang thông tin.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết