T2, 06 / 2018 3:11 chiều | admin

 Chữa “bệnh” bí đầu ra nông sản Việt

Để giúp nông sản Việt hết “bí” đầu ra, cần ưu tiên phát triển nông nghiệp công nghệ cao, liên kết chuỗi giá trị và cùng nông dân đối mặt với áp lực thị trường

t-q-821.jpg   Đậu cô ve của người dân Quảng Ngãi đang rẻ như bèo 500 – 1.000 đồng/kg

Điệp khúc “được mùa mất giá, được giá mất mùa” cứ liên tục tái diễn nhiều năm nay, và danh sách các mặt hàng nông sản ế, giá rẻ như cho, nằm chờ “giải cứu” ngày càng kéo dài. Từ đầu năm 2018 đến nay, cả nước có hàng loạt mặt hàng nông sản thay nhau “kêu cứu” như: củ cải (Mê Linh, Hà Nội); su hào (Tứ Kỳ, Hải Dương); dưa hấu (Quảng Ngãi); dứa (Phú Hòa, Phú Yên, Thanh Hóa); khoai lang (Phú Thiện, Gia Lai); thanh long (Bình Thuận); chuối (Đồng Nai)… Hay thực trạng giá sữa ở Củ Chi, TP. HCM rẻ như nước lã, khiến nông dân nuôi bò sữa lao đao, nhiều hộ phải bán bò, thua lỗ nặng

Những dẫn chứng trên chỉ là một vài miếng ghép trong bức tranh nông sản không mấy sáng màu, và nông dân Việt cứ mãi trong vòng luẩn quẩn “bí” đầu ra khi được mùa; “khan hàng” khi giá tốt. Vậy “liều thuốc” nào có thể “chữa bệnh” bí đầu ra cho nông sản Việt

Theo ông Tạ Minh Tâm – Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Tiền Giang, khó có thể tìm được chiếc “chìa khóa vạn năng” để tháo gỡ toàn diện các vấn đề đặt ra trong sản xuất nông nghiệp hiện nay.

Ông Tâm cho rằng, khi ban hành Luật Trồng trọt phải tạo ra chuyển biến căn bản trong lĩnh vực trồng trọt; giúp người nông dân có nhiều thuận lợi trong tiếp cận các chính sách hỗ trợ, phát triển sản xuất. Đồng hành cùng nông dân đối mặt trước những áp lực của thị trường nông sản ngày càng khó tính, tiêu chuẩn cao, cạnh tranh nhiều.

Ông Tâm nhấn mạnh, cần luật hóa trách nhiệm thông tin thị trường; dự báo thị trường, khuyến cáo người dân sản xuất. Luật hóa chính sách khuyến nông, bảo vệ thực vật, thúc đẩy liên kết, hình thành chuỗi giá trị. Cụ thể hóa hơn quan điểm, chính sách đối với nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp biến đổi gien, xu hướng phát triển của nông nghiệp thế giới.

Ông Tâm lưu ý, cần xác định vấn đề an toàn thực phẩm trong ngành nông nghiệp là vấn đề cốt lõi; đồng thời phải đáp ứng các tiêu chuẩn sản phẩm, quy chuẩn, chất lượng sản phẩm… Ngoài ra, cần định hướng phát triển trồng trọt theo thị trường, cơ cấu quản lý sản xuất hợp lý, quy mô lớn, chất lượng hiện đại, bền vững, liên kết sản xuất.

Ngoài ra, ông Tâm cho rằng, phải tăng cường hiệu quả, khả năng kiểm tra, kiểm soát của cơ quan chức năng, đối với các khâu trong chuỗi sản xuất nông nghiệp; từ giống đến canh tác, phân bón, chế biến, lưu thông, thương mại hóa sản phẩm trồng trọt.

Về nguyên nhân dẫn đến các cuộc “giải cứu” nông sản thời gian qua, bà Nguyễn Thị Lệ Thủy – Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Đầu tư tỉnh Bến Tre – nhận định: việc áp dụng chính sách đảm bảo an ninh lương thực thời gian qua, đối với cây lúa, cho thấy, người trồng lúa không được bảo đảm lợi ích khi trồng theo quy hoạch. Không được chuyển đổi mục đích sử dụng đất lúa, nhưng không có chính sách bảo trợ của nhà nước cho tương thích. Chỉ được hỗ trợ một phần thiệt hại khi bị thiên tai, và những hỗ trợ khác nếu có, cũng không đến được với người trồng lúa.

Trong khi đó sản xuất lúa vẫn theo nguyên tắc thị trường, điều này dẫn đến bất chấp và cảnh báo trồng không theo quy hoạch gây ra nhiều hậu quả; phải tổ chức nhiều cuộc “giải cứu” nông sản trong thời gian qua, bà Thủy cho hay.

Bà Thủy kiến nghị, cần ưu tiên phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh an toàn, tái sử dụng các phụ phẩm trong trồng trọt. Ví như, sản xuất phân bón hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao chuyển giao giống kháng bệnh, kháng hạn, kháng mặn, thích ứng biến đổi khí hậu. Cần có chính sách khuyến khích đầu tư, ưu đãi thuê đất, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi thuế nhập khẩu công nghệ và đào tạo lao động…

Về chính sách phát triển ngành trồng trọt theo vùng miền, bà Thủy gợi ý, ở vùng đồng bằng, cần có chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Tích tụ ruộng đất để đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ giới hóa và khuyến khích liên kết trong sản xuất, đảm bảo tính bền vững. Vùng miền núi, hải đảo, điều kiện canh tác khó khăn nên khuyến khích sản xuất hữu cơ, sản xuất giống, phát triển các giống bản địa. Vùng thành thị khuyến khích phát triển nông nghiệp đô thị kết hợp du lịch.

Đề xuất hình thành chuỗi canh tác nông nghiệp, ông Hồ Thanh Bình – Phó trưởng Khoa Nông nghiệp – Tài nguyên thiên nhiên, Trường Đại học An Giang – cho rằng, cần có quy định chính sách ưu tiên cụ thể đối với các mô hình sản xuất nông nghiệp mới, như mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, an toàn, theo chuỗi giá trị. Đặc biệt, khuyến khích mô hình sản xuất, chế biến giá trị gia tăng cho nông sản.

Ngoài ra, theo ông Bình, cần khuyến khích các mô hình sản xuất trong vùng sản xuất tập trung, an toàn sinh học và an toàn thực phẩm, hình thành chuỗi cung ứng nông sản nội địa và liên kết chuỗi phục vụ xuất khẩu, để giúp tháo gỡ khó khăn  đầu ra cho nông sản Việt.

Đắk Nông: Tăng diện tích cây bơ xen canh

Những năm gần đây, trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa (Đắk Nông), diện tích cây bơ tăng nhanh, hiện có trên 241 ha. Cây bơ chủ yếu được người dân trồng tại các xã Quảng Thành, Đắk Nia, Đắk R’moan, theo hình thức xen trong vườn cà phê, tiêu…

d-n-319.jpg
Trồng xen bơ trong rẫy cà phê ở Tây Nguyên

Anh Nguyễn Thanh Hùng ở thôn Tân Phương, xã Đắk R’moan có hơn 300 cây bơ trồng xen trong vườn cà phê và đã cho thu hoạch vài năm nay, chia sẻ: “Gia đình hiện có hơn 4 ha cà phê và đều được trồng xen bơ, giúp tăng thu nhập trên một diện tích.

Mỗi năm, ngoài trên 10 tấn cà phê nhân, gia đình còn thu thêm khoảng 2 tấn bơ. Đến mùa, thương lái vào vườn thu mua với giá khoảng 20.000 đồng/kg. Trước đây, anh trồng giống bơ địa phương, nhưng vài năm gần đây đã chọn  các loại như: 034, Booth, Hass, nên năng suất, chất lượng và giá bán cũng cao hơn nhiều”.

Bên cạnh việc trồng xen, hiện, nông dân thị xã còn chú trọng trồng tập trung và đã có 64 ha. Trên địa bàn xã Đắk R’moan có nhiều hộ  trồng tập trung, và chọn những giống bơ chất lượng cao. Điển hình, anh Lê Văn Hưng thôn Tân Phú, có 3 ha bơ trồng tập trung gồm các giống: Cuba, Booth, đã cho thu hoạch từ 5-8 năm nay, mỗi năm thu về cả tỷ đồng.

Ở thôn Tân Lợi, anh Nông Ngọc Ninh, Hồ Xuân Phương, trồng 2 ha bơ Booth; anh Phương trồng thêm bơ 034, đều cho thu hoạch từ 10-12 năm nay. Hiện, năng suất bơ đạt khoảng 1 tấn/ha, dự kiến những năm tiếp theo sẽ đạt 1,5-2 tấn/ha. Giá cả thị trường, thương lái thu mua từ 20.000-40.000 đồng/kg tùy loại, một số giống bơ chất lượng cao thì giá cao hơn nhiều. Theo các hộ dân, việc trồng bơ tập trung dễ dàng cho khâu chăm sóc, nhất là ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, để nâng chất lượng sản phẩm. 

Từ thực tế trên, Thị xã đang khuyến khích người dân chọn trồng các giống bơ có chất lượng cao, phục vụ thị trường trong nước và hướng đến xuất khẩu. Hiện, UBND thị xã cũng đã khảo sát việc phát triển diện tích bơ trên địa bàn, và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững.

Thời gian tới, thị xã sẽ tăng cường công tác tập huấn; chuyển giao khoa học kỹ thuật về trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và sơ chế, chế biến sản phẩm bơ cho người dân trên địa bàn. Cùng với chú trọng phát triển mô hình liên kết chuỗi giá trị, thị xã cũng kêu gọi nhà đầu tư xây dựng cơ sở sơ chế, chế biến các sản phẩm từ bơ, nhằm ổn định đầu ra cho nông dân, nâng cao giá trị.

Mặt khác, Thị xã cũng đề nghị tỉnh cần tiến hành quy hoạch vùng sản xuất bơ, tại vùng đất phù hợp, và làm tốt công tác tuyển chọn giống bơ phù hợp nhu cầu thị trường, điều kiện tự nhiên của địa phương và trình độ canh tác của nông dân.

Việc hỗ trợ nông dân trồng bơ theo quy hoạch, xây dựng mô hình sản xuất bơ theo tiêu chuẩn an toàn VietGAP, và các tiêu chuẩn quốc tế cũng cần được chú trọng. Công tác xây dựng, quảng bá thương hiệu về trái bơ của địa phương thông qua các hội chợ, hội nghị, hội thảo xúc tiến đầu tư cần được đẩy mạnh.

Đắc Lăk: Xây dựng mô hình VietGAP bưởi da xanh, ruột hồng, không hạt

 Cách đây hai năm, khu vườn hơn 6 sào tại tổ dân phố 6, phường Ea Tam (TP. Buôn Ma Thuột) của gia đình chị Nguyễn Thị Vân, từng là mô hình trồng hoa cúc và hoa hồng, đem lại hiệu quả kinh tế cao, được nhiều nông dân tìm đến tham quan, học tập.

l-3_41.jpg

                                                  Chị Vân trong vườn bưởi da xanh của gia đình                                                        

Tuy nhiên, không bằng lòng với những gì đạt được, chị Vân muốn tìm hướng đi mới trong sản xuất như: ứng dụng khoa học kỹ thuật để gia tăng giá trị sản phẩm. Đầu năm 2016, chị Vân đến Tiền Giang để tìm hiểu, nghiên cứu cặn kẽ các giống bưởi, cam sành, quýt đường. Tiếp cận vị ngọt “tận gốc” của các giống cây này, chị mạnh dạn mang giống bưởi da xanh, ruột hồng, không hạt về trồng (mật độ khoảng 650 cây/ha). Chủ yếu dùng phân hữu cơ (hạn chế tối đa phân vô cơ), sau tám tháng bưởi đã ra hoa.

Lứa đầu tiên chị ngắt bỏ toàn bộ hoa, chỉ chừa lại vài quả để đánh giá chất lượng. Như mong ước của chị, đất đai, khí hậu Buôn Ma Thuột, cùng với kỹ thuật mới đã mang lại sản phẩm bưởi da xanh không hạt, chất lượng cao hơn so với giống bưởi da xanh được trồng tại một số vùng miền khác.

Đến nay, vườn bưởi đã trĩu quả, chị Vân ước tính, bình quân mỗi cây cho 30 quả (thu bói), mỗi quả khoảng 1,7 kg, giá bán bình quân 50.000 đồng/kg thì mỗi cây sẽ cho thu nhập 2,55 triệu đồng/vụ, tức là hơn 1,6 tỷ đồng/ha. Tuy nhiên, để khẳng định giá trị của bưởi da xanh Buôn Ma Thuột trên thị trường, chị Vân đang tích cực xây dựng chứng nhận VietGAP.

Bên cạnh mô hình bưởi da xanh ruột hồng, không hạt, chị Vân còn trồng hơn 4 ha quýt đường và cam sành trên đồi gần nhà, đang trong thời kỳ ra quả.

Đây là những cây ăn quả được đầu tư ban đầu tương đối lớn, nên chị Vân hết sức thận trọng trong việc đánh giá về hiệu quả trước khi quyết định chuyển đổi từ sản xuất các loại hoa (đang thu nhập ổn định) sang trồng bưởi da xanh ruột hồng không hạt.

Có thể nói, nhờ sự đánh giá kỹ lưỡng và giá trị hiện tại của các loại trái cây như bưởi da xanh, cam sành, quýt đường, mô hình cây ăn quả của gia đình chị Vân đang mở ra triển vọng rất lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Bài viết cùng chuyên mục