Giải pháp thuận thiên thích ứng biến đổi khí hậu ở ĐBSCL 

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Theo các nhà khoa học, ĐBSCL có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, đồng bằng đang đối mặt với những thách thức về biến đổi khí hậu (BĐKH) làm thay đổi hệ sinh thái, đời sống người dân. Do đó, việc khai thác và sử dụng tài nguyên liên quan trong lưu vực sông Mekong cần được bảo tồn, phát triển phù hợp.

Theo các nhà khoa học, ĐBSCL có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, đồng bằng đang đối mặt với những thách thức về biến đổi khí hậu (BĐKH) làm thay đổi hệ sinh thái, đời sống người dân. Do đó, việc khai thác và sử dụng tài nguyên liên quan trong lưu vực sông Mekong cần được bảo tồn, phát triển phù hợp.

Sản phẩm tạo ra từ các mô hình NbS được trưng bày tại buổi khởi động giai đoạn II Dự án CRxN.

 

Thích ứng theo vùng sinh thái

Theo TS Dương Văn Ni, chuyên gia về đa dạng sinh học ở ĐBSCL, trước đây ĐBSCL thể hiện rõ đặc điểm của bốn vùng hay còn gọi là bốn “miệt”, bao gồm miệt vườn; miệt ruộng; miệt bưng và miệt biển. Tuy nhiên, do tác động của BĐKH và qua quá trình phát triển sản xuất, những đặc điểm từng vùng sinh thái ở ĐBSCL không còn giữ được như trước đây, mà có nhiều thay đổi từ sản xuất đến sinh kế, sinh hoạt của từng vùng. Tại Quyết định số 287/QĐ-TTg của Thủ tướng phê duyệt quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cơ bản ĐBSCL cũng chia thành bốn “miệt”, nhưng “miệt” bưng và ruộng được nhập lại thành một, cho nên ĐBSCL hiện còn ba vùng sinh thái, gồm vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Do đó, hoạt động sản xuất, sinh kế của người dân từng bước thích ứng với quy hoạch này.

TS Trần Triết, Trường Đại học Khoa học tự nhiên TP Hồ Chí Minh, nhận định: “Do phát triển kinh tế nên vùng sinh thái ĐBSCL có nhiều thay đổi. Trong đó, với “miệt” bưng, vùng sinh thái này phù sa của sông không đến được. Tuy nhiên, khi kênh rạch được đào khá nhiều, nước chứa phù sa đi rất nhanh vào “miệt” bưng, làm thay đổi vùng sinh thái, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản phát triển theo”.

Còn Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH dự báo, khoảng 40% diện tích ĐBSCL có nguy cơ bị ngập nếu mực nước biển dâng 1m, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của hơn 17 triệu người. Để ứng phó với thực tế này, nhiều năm nay, Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam (WWF-Việt Nam) phối hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) tỉnh Đồng Tháp triển khai giai đoạn I của Dự án giải pháp thuận thiên thích ứng với BĐKH tại ĐBSCL (CRxN) với thí điểm thành công các mô hình, giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS), giúp cộng đồng thích ứng tốt hơn với biến động lũ, thiên tai. Khi so sánh mô hình canh tác 2 vụ lúa và một vụ sen mùa nước nổi là 95,67 tấn CO2 tương đương/ha/năm với mô hình canh tác lúa ba vụ là 129 tấn CO2 tương đương/ha/năm.

Theo Sở NN&MT tỉnh Đồng Tháp, bằng cách triển khai các mô hình sinh kế “thuận theo con nước” như trồng lúa nổi, mô hình sen - cá kết hợp, lúa - cá… dự án đã chứng minh việc phục hồi sinh thái và tăng trưởng kinh tế có thể song hành. Những mô hình được khoa học chứng minh này giúp vùng đất ngập nước tự phục hồi, cải thiện thu nhập, góp phần giảm 25% lượng khí thải nhà kính. Ông Lê Hà Luân, Giám đốc Sở NN&MT tỉnh Đồng Tháp, cho biết: “Địa phương đang chuyển hướng mạnh mẽ từ mô hình nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp thông minh thích ứng với BĐKH, vừa để ứng phó với thách thức khí hậu, vừa giúp người dân ổn định sinh kế. NbS là chìa khóa để khôi phục chế độ lũ tự nhiên của ĐBSCL, cũng là nền tảng cho sự bền vững của môi trường và con người. Chúng tôi cam kết cùng WWF-Việt Nam thúc đẩy, nhân rộng các mô hình NbS hiệu quả, đồng thời huy động nguồn lực để duy trì, phát triển bền vững”.

Nhân rộng mô hình

Với nguồn tài trợ của Chính phủ Úc thông qua Chương trình Hợp tác Mekong Chống chịu với BĐKH, giai đoạn II của Dự án CRxN đặt mục tiêu phục hồi 1.750ha hệ sinh thái nước ngọt quan trọng và đảm bảo sinh kế bền vững, thích ứng khí hậu cho gần 2.000 cư dân dễ bị tổn thương tại Đồng Tháp và Tây Ninh. Đồng thời, dự án sẽ được nhân rộng tại các địa phương vùng ĐBSCL trong tương lai.

Triển khai đến năm 2029 tại Đồng Tháp và Tây Ninh, giai đoạn II đánh dấu bước ngoặt quan trọng chuyển từ thí điểm sang nhân rộng các mô hình thích ứng với khí hậu đã thành công, nhằm phục hồi hệ sinh thái, tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng, giúp con người và thiên nhiên cùng phát triển hài hòa. Dự án tập trung hỗ trợ cộng đồng yếu thế tại vùng đệm của Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen và Vườn quốc gia Tràm Chim.

Bà Gillian Bird, Đại sứ Úc tại Việt Nam, chia sẻ: “Chúng tôi rất vui được đồng hành cùng Việt Nam xây dựng Tiểu khu vực Mekong toàn diện và mạnh mẽ hơn. Từ những nền tảng vững chắc ban đầu, chúng tôi tin rằng việc phục hồi thiên nhiên và hỗ trợ sinh kế tiếp tục tạo ra tác động tích cực cho con người và hành tinh, nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng trước BĐKH”.

Tại buổi khởi động giai đoạn II của Dự án CRxN, ông Vương Quốc Chiến, Quản lý Dự án vùng, WWF-Greater Mekong, chia sẻ: “Ở giai đoạn II, trọng tâm của chúng tôi là tăng cường hợp tác để thúc đẩy phục hồi ở quy mô cảnh quan, nơi sinh cảnh đất ngập nước khỏe mạnh hơn, sinh kế bền vững và an ninh khí hậu dài hạn cùng bổ trợ lẫn nhau. Chính tầm nhìn chung này giúp người dân, hệ sinh thái của Mekong tiếp tục phát triển thịnh vượng trong nhiều năm tới”.

Bà Charlotte Sterrett, Quản lý cấp cao Chương trình Tăng cường khả năng chống chịu và Thích ứng của cộng đồng, WWF-Úc, nhận định: “Giai đoạn II của dự án đánh dấu bước tiến từ việc thí điểm các giải pháp sang xây dựng lộ trình để mở rộng. Khi chúng ta xác định được giá trị, đảm bảo tính toàn vẹn của những giải pháp dựa vào thiên nhiên do cộng đồng địa phương dẫn dắt, chúng ta có thể thu hút thêm nguồn đầu tư để duy trì các mô hình này lâu dài, ngay cả khi dự án kết thúc”.

Bài, ảnh: HÀ VĂN


Tin liên quan